Cơm Vườn

Thích nữ Chúc Hoàng

            Có nhiều người khi nghe hai chữ “Cơm Vườn” thấy ngạc nhiên và hơi ngồ ngộ. Bởi vì họ chưa bao giờ được thưởng thức những giây phút hạnh phúc khi quây quần bên nhau trong những buổi cơm chiều đạm bạc, bên bếp lửa hồng với những bát cơm to. Cũng có nhiều người khi nghe hai chữ cơm vườn thấy rất thân quen và lòng cảm được mùi tàn khói của các thân cây cũng như mùi mồ hôi mằn mặn cộng với tiếng cười vui tươi hoan hỷ của đại chúng sau một ngày làm công quả mệt nhọc đầy nắng gió vừa qua.

            Cơm vườn chính là ăn cơm ngoài vườn chùa An Lạc mình đó: vì chùa đang xây cất, chỗ ăn cơm hơi chật hẹp, việc chùa thì nhiều mà ông mặt trời mùa hè mãi rong chơi lâu quá nên cứ khoảng 5 đến 6 giờ chiều bụng ai cũng đói meo mà ánh nắng của ông mặt trời vẫn cứ rọi xuống vườn chùa khiến những thân cây vươn mình đón nắng tạo thành bóng râm như những vị đại thần che chở cho Ni chúng nghĩ ngơi.  Nhờ những bóng râm này mà đến giờ cơm chiều, trị nhật nấu xong, hành đường mang tận nơi làm việc toàn thể ni chúng trong đó có cả Sư phụ thả cuốc xẻng, lột bao tay, quẹt quẹt mồ hôi là có thể ngồi phệt xuống gốc cây quây quần bên nhau mỗi người một tô dành nhau xúc cơm, tùy ý chọn những thức ăn để vào tô mình.

            Cứ như thế “của không ngon đông con cũng hết”. Thực đơn của quán cơm vườn trung bình mỗi ngày 3 món bí đỏ canh, bí đỏ nướng, bí đỏ xào, là những món ruột, có bữa thì ăn cà tím chiên sốt nước tương gừng, bắp cải xào thơm, đậu hủ xào sả ớt, dưa leo chấm mắm với rau thơm, rau muống xào, canh cà chua rong biển, canh rau tằng ô, canh cải xanh, Sư Cô Tánh Lạc trồng ở gốc vườn chùa nấu với gừng, có bữa được ăn canh rau tạp tàng nữa chứ…

            Tất cả những món ăn đơn giản này thật quen thuộc đến nỗi những Phật tử thường xuyên đến chùa làm công quả như chú Minh Ngạn, chú Minh Nhân, chú Huân, chú Quảng Hữu, chú Thiện Nhựt, bác Tâm Vượng, bác Sáu… được ăn đi ăn lại đến nỗi thuộc nằm lòng mà không biết vì sao lần nào ăn cũng tấm tắc khen ngon.

            Cơm vườn là thế đó, từ khi dời nhà đến nay kể ra cũng cả tháng rồi, ngày nào Ni chúng cũng có một bữa cơm vườn. Khi thì ở bờ kênh sau hậu tổ, khi thì trước đài Ngài Di Lặc bên hông chánh điện và nhiều nhất là ở dưới gốc cây nơi có chiếc xích đu kế mái nhà xanh. Cơm vườn kế mái nhà xanh có chiếc xích đu này có duyên với chú Minh Ngạn lắm. Không những cơm chiều mà bữa trưa chú cũng làm một dĩa to ngồi đó ăn để tiện trong coi xây cất, có khi thấy chú vừa ăn vừa nghe phone, có khi gấp việc đang ăn giữa chừng chú bỏ đi đâu mất tiêu để lại chiếc ghế chơ vơ bên bếp lửa tàn với bát cơm to, đến khi trở về thì cơm cũng giòn mà canh cũng lạnh. Cứ như thế, ngày nào chú cũng bưng cơm ra vườn ăn cho nên bị chú Quảng Hữu chọc quê là “làm việc chùa mà ăn cơm ngoài”. Nghe nói ăn cơm ngoài đừng tưởng là sang nhé, chính là ăn cơm ngoài vườn đó, vậy mà có nhiều người tưởng chú Minh Ngạn làm công quả ở chùa suốt ngày không có một đồng mà đến bữa đi ăn cơm nhà hàng đó chứ.

            Những bữa cơm vườn ngon miệng không những nhờ bụng đói, được ngắm cảnh thiên nhiên, những câu chuyện ngụ ngôn, những lời nói hóm hỉnh đầy ý nghĩa của Sư phụ và đại chúng mà còn vui nhờ tài kể chuyện tiếu đặc biệt của chú Quảng Hữu nhà ta. Không biết đâu mà “nhiều chuyện” lắm thế, ngày nào chú cũng có một câu chuyện để dành chờ khi mọi người đang chăm chú ăn cơm là chú bắt đầu mở màn và kết thúc câu chuyện là một tràng cười của đại chúng vang lên.

            Cơm vườn của chùa ta không những tạo niềm an vui cho những người Việt và hai Phật tử người nước ngoài họ cũng cảm thấy hạnh phúc khi ăn cơm vườn.  Lại có những nhà thầu cũng bắt mắt tò mò.  Một hôm nọ ông thầu drywall thấy mười Sư Cô nhà mình ai cũng làm việc nặng mà sức lực dẻo dai như kéo xe chở đá, khiêng gỗ, chặt cây, mà trên khuôn mặt Sư Cô nào cũng rạng rỡ tươi vui không tỏ vẻ than khóc mệt nhọc…cũng tò mò theo hỏi chú Minh Ngạn: “Mấy Nuns ăn gì mà ai cũng có dáng người ốm ốm, vẽ mặt tươi vui và làm việc giỏi dữ vậy, chỉ tao ăn với”. Không biết chú Minh Ngạn trả lời thế nào mà hôm sau họ cũng xin một dĩa cơm vườn ngồi ăn ở chiếc xích đu.

            Cơm vườn là thế đấy, chẳng cần cao lương mỹ vị, chẳng cần nhà đẹp bàn sang, chén vàng, đũa ngọc chỉ cần một chút hòa hợp quây quần bên nhau thì dù thức ăn ngon hay dở và có thể ngồi bất kỳ ở nơi nào chúng ta cũng cảm thấy ngon miệng và hạnh phúc an vui hơn là “ngồi mát ăn bát vàng” mà lòng bất hòa hay thấp thỏm lo âu.

            Cho đến bây giờ, sắp đến ngày an vị và lạc thành ngôi chánh điện chùa rồi mà những bữa cơm vườn với niềm hạnh phúc an vui bên bếp lửa hồng của ni chúng chùa An Lạc vẫn chưa khép lại, xin mời tất cả mọi người hãy cùng đến viếng chùa, làm công quả đồng thời tận hưởng những bữa cơm vườn đạm bạc đơn sơ nhưng tràn đầy đạo vị.