Trở Lại Bình Thường

Indy ngày cuối Đông 2010
By Như Ý

          Nghe mẹ nói em bệnh cả thân lẫn tâm, lại phải đi làm ăn xa lâu lâu mới về nhà, mẹ nhắc chị gọi thăm và an ủi em, nhưng sau đó chị vô Phật Thất một tháng nên không thể gọi cho em được, khi ra thất, chị gọi về thì mẹ nói em đã  trở lại bình thường rồi, chị mừng và liên tưởng đến câu “bình thường tâm thị đạo” mà chị được học trong kinh điển. Em ạ! Trong chúng ta, ít ai được bình thường, mà họ hoặc là quá tầm thường, hoặc quá bất thường, hay quá phi thường.

          Người tầm thường, là người bị cuộc sống cuốn trôi như dòng thác lũ, là một kẻ sống buông mình theo dòng sông định mệnh, không biết định hướng cho tương lai, không hướng đến cái chân thiện mỹ.

           Người bất thường là người có lối sống không biết chừng mực, khi bất cập, khi thái quá, sống theo bản năng và cảm tính của cá nhân họ, hay nói một cách khác là sống theo “ngẩu hứng”, thị hiếu, rồi sẽ bị ngọn thác đời cuốn họ quăng qua bên kia bờ vực thẳm.
Còn người phi thường, luôn luôn muốn với lên cao, bay bổng khỏi thực tại khổ đau của cuộc sống, muốn đi tìm cái mà họ cho là hạnh phúc, muốn chắp cánh tung bay, lánh xa sự thế, cho đến ngày kia cánh mỏi, sức tàn họ lại bị rơi trở về mặt đất, hứng chịu bảo tố của cuộc đời, rồi họ bất mãn vì ước nguyện bất thành, rồi hận đời, trách người, “tấn thối lưỡng nan, đi về lận đận” rốt cuộc mọi thứ đều bất toàn nên họ đành chấp nhận “số phận”.

           Em ạ! Chúng ta thường rơi vào một trong ba hạng người trên, hoặc là cả ba cùng có mặt trong ta, thế mới biết làm sao để trở lại bình thường? Em ơi! Chúng ta đã từng là kẻ tầm thường, rồi có khi bất thường và từ khi gặp được giáo pháp của Phật, chúng ta lại muốn trở thành kẻ phi thường. Dù là tại gia hay xuất gia cũng không ngoại lệ. Em tưởng rằng có thể vùng vẫy ra khỏi mọi ràng buộc thực tại, và hướng đến một tương lai trên giải đất bình an là chuyện dể dàng lắm sao. Em cứ mãi băn khoăn tự nghĩ: “biết bao giờ mình mới được bình an” và rồi em hăm hở đi tìm kiếm … Nhưng bằng cách này, hay cách khác thì em đã vô tình đánh mất cái bình an thường trụ, mà trong kinh Phật thường dạy là “cái bình thường”, “cái đang hiện thực” hoặc “cái đương như” muôn thuở của chính mình. Thì sao em lại cứ mãi bỏ rơi cái hạnh phúc muôn thuở của chính mình để đuổi bắt cái hạnh phúc lý tưởng xa xăm nào đó? Em đã thực sự hiểu rõ hai chữ hạnh phúc chưa?

Một thiền sư đã nói : “Thân tại hải trung hưu mích thủy. Nhật hành lãnh thượng mạc tầm sơn”. Nghĩa là, thân ở biển khơi đi tìm nước, ngày ngày trên núi lại tìm non”. Cái bình thường là cái khổ đau, cũng là cái vô thường và vô ngã mà em và ta luôn luôn có mặt ở đó, tiếp cận với nó. Chỉ vì em mơ ước cái phi thường, em tìm cầu cái bình an hạnh phúc xa xăm nào khác, nên em đã tự bỏ quên cái bình thường thiên thu vô giá của chính mình. Cũng như một người nông phu, cưỡi  trâu lại đi tìm trâu, tìm mãi không gặp, mà thật ra con trâu và người nông phu chưa từng rời nhau nữa bước.

           Trở lại bình thường, không phải đã ra đi rồi trở lại, mà chỉ cần em từ giả ước vọng phi thường, chỉ cần em buông tay một lần dứt khoát, thế là xong. Nhưng buông tay để trở lại cái bình thường chứ không phải buông xuôi theo cái tầm thường, nghĩa là làm sao em không bị cuốn trôi theo dòng định mệnh, không bị cuốn trôi theo thói thường mà xưa nay em từng tôn vinh nó.

Em nhớ không! Mùa xuân năm ngoái, khi chị em mình ngồi hóng gió trên bãi biển Nha Trang, đêm về càng sâu, không gian càng sâu lắng, lặng nghe con sóng vỗ rì rào lúc nhặt lúc khoan, chị liên tưởng loài cá đang bơi lội dưới nước, rồi chị kể cho em về chuyện “con cá”. Tại sao cá không bị cuốn trôi theo giòng nước? Tại sao cá không bị chìm xuống đáy biển? Tại sao cá không biến thành rồng để bay bổng lên mây? Chỉ vì một điều rất đơn giản là cá biết bơi lội, bơi lội trong chính giòng nước bình thường muôn thuở của nó.

Em tưởng người giác ngộ là ra khỏi cái bình thường sao? Không, họ chỉ ra ngoài cái tầm thường, cái bất thường và cái phi thường. Giác ngộ, là trở lại bình thường, mà người ta thường diễn tả những danh từ thật kiêu như là “ngộ nhập tự tánh”, hay “kiến tánh chơn như”,… v.. v… Một thiền sư đã xác nhận: Người giác ngộ là “bất muội nhân quả” chứ không phải “bất lạc nhân quả”. Nhân quả cùng ta sinh ra, nghĩa là cùng ta là một. Cho nên họ ở trong nhân quả mà không “muội” nhân quả, nghĩa là họ sống ung dung trong giòng sông nhân quả ấy mà chẳng hề bị nhân quả cuốn trôi. Họ không ra khỏi giòng sông, nhưng họ đã ra khỏi sự “cuốn trôi” của giòng sông định mệnh.

          Em biết không, cái mà người ta thường cho là tự do thoải mái, thì chính nó là ngục tù ràng buộc con người. Nơi mà nhiều người phi thường tìm đến gọi nó là dãy đất bình an, thì chính nó là bãi chiến trường bốc đầy khói lửa. “Hãy tỉnh ngộ, hãy dừng chân!” “Hãy làm người bình thường”. Không thể có tự do nào khác, không thể có hạnh phúc nào hơn ngoài cái bình thường muôn thuở này. Vậy chỉ còn một lối thoát duy nhất:

“Tự do là ung dung trong ràng buộc
Hạnh phúc là tự tại giữa đau thương”

          Đúng như vật, vui buồn, đuợc mất, hơn thua, xấu tốt … là bản chất của cái bình thường. Nếu em chỉ để một thoáng phân vân lựa chọn cái này hay cái kia là hỏng hết cả đời người em biết không! Nhưng vì sao mà nhiều người không kham nổi với cái bình thường đơn giản đó?  Ðức Phật trả lời: “Chính vì họ còn quá nhiều vọng tưởng, quá nhiều tham sân si…”
Sống tầm thường là biểu hiện của si mê. Sống bất thường là biểu hiện của sân hận. Sống phi thường là biểu hiện của tham lam. Tham, Sân, Si là những ảo ảnh biến hiện đan xen không lường được. Chúng là trùng trùng duyên khởi trên cái trùng trùng duyên khởi, là khổ đau chồng chất lên khổ đau. Bởi vậy, chính vì duyên khởi, khổ đau, nên con người sống trong thế giới ảo mộng của tầm thường, của bất thường và của phi thường.

           Cách đây vài năm về trước, chị có một đệ tử muốn nhập môn xuất gia, chị thâu nhận mà không ngần ngại, vài ba tháng đầu vị này rất siêng năng tinh tấn tu học, thời gian sau đó thì họ thường lặng lẹ kém vui, thỉnh thoảng trầm tư, ước vọng xa xăm, thấy vậy, chị đến gần trò chuyện, mới biết là vị này đang rơi vào “muốn làm người phi thường” vị đê tử cho biết, Ý nguyện xuất gia là để làm một cái gì  đó phi thường hơn người bình thường, để đạt tới an lạc giải thoát, để ra đời cứu độ chúng sanh, chúng sanh đang chìm đắm trong ngũ dục lục trần … Chứ vô chùa chỉ tụnh kinh, nấu cơm, dọn rác, lau nhà, hút bụi thì chẳng có gì cao cả … Chị thoáng qua biết bệnh, mà đó là căn bệnh chung của chúng sanh, người xuất gia cũng không ngoại lệ. Lúc ấy người đệ tử này đang sống trong thể trạng “phi thường”, nghĩa là sống trong mộng ảo xa rời thực tế. Nhưng dần dần vị đó biết lắng nghe, biết quán chiếu, biết quay về, biết thực tập, và rồi căn bệnh phi thường biến mất và ngày nay đã trở lại đời sống “bình thường”, nghĩa là rửa chén, lau nhà, nhổ cỏ như bao nhiêu người khác.
Chị nhớ lại những thập niên tám mươi, lúc đó chị đang trú học tại PV, chị đã giả từ QM để vào Sài Gòn, mang trong mình bầu nhiệt huyết “tầm sư học đạo”, nhưng rồi, ngày lại ngày, năm tháng theo nhau, vẫn bổn xưa tích cũ, PV và QM nào có khác gì, cũng tụng kinh, niệm Phật, lau nhà, gánh nước, làm tương chao. Chị chán ngây ngất, chị tự hỏi “vào chùa chỉ vậy thôi sao”, “tu như vậy làm sao mà thành Phật thành Tổ được đây”. Rồi chị tiếp tục hành trình đi tìm kiếm, đi tìm những mộng ảo xa vời, rồi một mình ôm gói lên Phương Bối Am, trãi qua bao gian nguy hiểm trở, đến được Phương Bối Am, chẳng thấy gì ngoài bốn bề mây trời sương khói bao la, vài phiến gỗ mục trơ trọi với rong rêu của tháng năm phủ kính. Thất vọng Phương Bối Am chị về Thiền Viện VC, ở đó, chị được ban chức sự sắp cho vào ban làm ruộng, ngày ngày phạng cỏ, bỏ phân, gieo mạ, cùng với những thiền sinh nơi đây, tối về chị cũng oai vệ vắt chân lên bồ đoàn ngồi thiền như bao nhiêu thiền sinh khác, nhưng người ta ngồi thiền thì nhập định, còn chị ngồi thiền thì vọng tưởng như con trâu hoang chưa từng biết nghe lời chủ. Nghĩa là một người muốn trở thành phi thường, thì không bao giờ biết bằng lòng với thực tại.

           Những năm tháng hằn học trôi qua, chân đã chùn và gối đã mõi, thân xác rã rời, chị mới được trở lại cái bình thường như hôm nay. Trở lại cái ban sơ, cái mà mình từng chối bỏ, cái không cần đuổi bắt kiếm tìm, bây giờ việc quét rác, lau nhà, vào ra lối xưa đường cũ là việc chị thường làm, và làm hăng say, làm trong hoan hỷ. Chị đã tìm được cái hạnh phúc trong những gì chính mình từng chối bỏ. Phật thất (một tháng) vừa qua, giúp chị như nếm được pháp vị, và dễ dàng “buông xả’ và cũng dễ dàng chấp nhận những gì mà trước kia chị lên án, và thậm chí cự tuyệt. Chắc em sẽ cho rằng, Niệm Phật, kinh hành là chuyện bình thường mà xưa nay ông già bà cả thường làm, em cho rằng chị “phóng đại tô màu” chứ gì. Em thấy chưa, em vẫn còn chưa bước qua khỏi bức thành kiến chấp, chưa thấu đạt được sự mầu nhiệm của Bổn Môn, chưa nghiền ngẫm 48 lời nguyện của Đức Phật Di Đà. Chính vì vậy em vẫn chưa trở lại “bình thường” được. Người bình thường có thể dạo chơi trong vườn hoa Tịnh Độ, em đừng nghĩ, Niệm Phật là chỉ cầu vãng sanh thôi đâu, em không thể hiểu hết ý nghĩa và sự mầu nhiệm của pháp môn Niệm Phật, chính chị cũng vậy, nếu không thực sự “hạ thủ” thì chắc chắn chị cũng như em hay như bao nhiêu người khác. Chị hạnh phúc khi đã tìm ra lối về, chị không thể nói hết cho em nghe những gì chị đã có được, trừ khi em phải “hạ thủ” thì em mới nếm được pháp vị của nó. Di Ðà là tự tánh, Tịnh Độ là bổn tâm, Niệm Phật là để trở về bổn tâm thanh tịnh của chính mình, một khi tâm tịnh, thì cảnh cũng tịnh, đó là cõi Tịnh Độ hiện tiền, mà khi sống trong Tịnh Độ hiện tiền, thì chết đương nhiên sanh vào Tịnh Độ. Ðức Phật dạy: “Tâm bình thế giới bình”, không ngoài ý nghĩa này vậy.

Chị ngừng bút, chúc em bình thường như trong cái “thường” của Đạo.

Chị,
Như Ý